09/08/2026
Ngày 08/8/2026 trong buổi làm việc của Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng với các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp về tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong lĩnh vực thuế và hải quan, từ thực tiễn tư vấn và vận hành của doanh nghiệp, hộ kinh doanh, nhiều đơn vị đại lý thuế đã đưa ra KIẾN NGHỊ 1 số vấn đề:
I. Chi phí tuân thủ thuế còn cao
Số lượng thủ tục có thể đã giảm, nhưng chi phí để thực hiện đúng, sửa sai và phòng ngừa rủi ro vẫn lớn. Chi phí tuân thủ không chỉ là tiền thuế mà còn gồm nhân sự kế toán – thuế, phần mềm, hóa đơn điện tử, chữ ký số, thời gian kê khai, quyết toán, giải trình, lưu trữ dữ liệu và cả những thủ tục phải thực hiện dù không phát sinh nghĩa vụ thuế.
Đây gần như là chi phí cố định, tạo áp lực lớn đối với hộ kinh doanh, doanh nghiệp siêu nhỏ và doanh nghiệp mới thành lập.
* Hóa đơn đối với hoạt động thương mại điện tử
Doanh nghiệp, HKD bán hàng qua sàn phải xuất hóa đơn cho số lượng rất lớn giao dịch bán lẻ, trong khi sàn đã lưu đầy đủ dữ liệu về đơn hàng, thanh toán, hoàn trả, phí dịch vụ và dòng tiền. Việc xuất từng hóa đơn, nhất là khi người mua không yêu cầu, làm tăng nhân sự, chi phí phần mềm và thời gian xử lý nhưng không làm tăng đáng kể tính minh bạch.
* Kiến nghị: Cho phép lập hóa đơn tổng hợp theo ngày đối với giao dịch bán lẻ trên sàn có chức năng thanh toán khi người mua không yêu cầu hóa đơn riêng. Hóa đơn tổng hợp được đối soát với dữ liệu chi tiết của sàn và dòng tiền thanh toán; trường hợp người mua có nhu cầu thì vẫn xuất hóa đơn riêng.
II. Thuế suất và gánh nặng tuân thủ đối với hộ kinh doanh
Chính sách thuế cần vừa bảo đảm minh bạch doanh thu, vừa phù hợp với năng lực tuân thủ của từng quy mô kinh doanh. Nếu áp dụng cùng một cơ chế cho các hộ có nguồn lực rất khác nhau sẽ làm tăng chi phí, giảm động lực mở rộng quy mô và chính thức hóa hoạt động.
Hiện nay, hộ có doanh thu trên 1 tỷ đến 3 tỷ đồng có thể nộp thuế theo tỷ lệ trên doanh thu; hộ trên 3 tỷ đồng phải áp dụng phương pháp doanh thu trừ chi phí. Tuy nhiên, nhiều hộ có doanh thu từ trên 3 tỷ đến dưới 10 tỷ đồng vẫn có quy mô nhỏ, ít nhân sự, chủ hộ trực tiếp quản lý và chưa đủ khả năng vận hành hệ thống kế toán, hóa đơn, chứng từ, hàng tồn kho và kiểm soát nội bộ như doanh nghiệp.
1. Hộ kinh doanh có doanh thu trên 1 tỷ đến dưới 10 tỷ đồng
Đề xuất mở rộng ngưỡng áp dụng phương pháp trực tiếp trên doanh thu từ mức trên 1 tỷ đến 3 tỷ đồng hiện nay thành trên 1 tỷ đến dưới 10 tỷ đồng.
* Hộ thuộc nhóm này được lựa chọn:
Nộp thuế trực tiếp trên doanh thu, áp dụng chế độ kế toán và kê khai đơn giản; hoặc
Tự nguyện áp dụng phương pháp doanh thu trừ chi phí nếu có đủ nhân sự, hệ thống kế toán, hóa đơn và chứng từ.
Cơ chế lựa chọn sẽ giúp hộ tích lũy nguồn lực, từng bước nâng cao năng lực quản trị mà không phải chuyển ngay sang phương thức vận hành như doanh nghiệp.
2. Rà soát tỷ lệ thuế trực tiếp theo ngành nghề
Tổng tỷ lệ thuế GTGT và thuế TNCN hiện nay phổ biến là:
Phân phối, cung cấp hàng hóa: 1,5%;
Sản xuất, vận tải, dịch vụ gắn với hàng hóa, ăn uống: 4,5%;
Dịch vụ, xây dựng không bao thầu nguyên vật liệu: 7%.
Các tỷ lệ này tính trên doanh thu nên chưa phản ánh đầy đủ giá vốn, tiền lương, tiền thuê mặt bằng và tỷ suất lợi nhuận thực tế.
Ví dụ, quán ăn có doanh thu 3 tỷ đồng phải nộp:
Thuế GTGT: 90 triệu đồng;
Thuế TNCN: 30 triệu đồng;
Tổng cộng: 120 triệu đồng/năm.
Nếu chi phí bằng 85% doanh thu, lợi nhuận trước thuế chỉ còn 450 triệu đồng. Số thuế phải nộp tương đương 26,7% lợi nhuận, chưa kể các chi phí tuân thủ khác.
Với hộ kinh doanh dịch vụ có cùng doanh thu 3 tỷ đồng:
Thuế GTGT: 150 triệu đồng;
Thuế TNCN: 40 triệu đồng;
Tổng cộng: 190 triệu đồng/năm.
Nếu lợi nhuận trước thuế là 450 triệu đồng thì số thuế tương đương 42,2% lợi nhuận.
Như vậy, tỷ lệ 4,5% hoặc 7% trên doanh thu tưởng không cao nhưng khi quy đổi trên lợi nhuận thực tế lại tạo ra gánh nặng rất lớn.
Kiến nghị: Rà soát, giảm tỷ lệ thuế theo tỷ suất lợi nhuận thực tế của từng ngành, có thể nghiên cứu theo định hướng:
Mức cụ thể cần được xác định trên cơ sở khảo sát tỷ suất lợi nhuận và đánh giá tác động ngân sách của từng ngành.
3. Xử lý “bước nhảy thuế” tại ngưỡng 1 tỷ đồng
Theo cách tính hiện nay, khi doanh thu vượt 1 tỷ đồng:
Thuế GTGT được tính trên toàn bộ doanh thu;
Thuế TNCN được tính trên phần doanh thu vượt 1 tỷ đồng.
Ví dụ, hộ dịch vụ có doanh thu 1 tỷ đồng không phải nộp thuế. Nhưng nếu doanh thu tăng lên 1,01 tỷ đồng thì phải nộp:
Thuế GTGT: 50,5 triệu đồng;
Thuế TNCN: 0,2 triệu đồng;
Tổng cộng: 50,7 triệu đồng.
Doanh thu chỉ tăng 10 triệu đồng nhưng nghĩa vụ thuế phát sinh 50,7 triệu đồng. “Bước nhảy thuế” này có thể tạo động cơ giấu doanh thu, chia nhỏ hoạt động hoặc không muốn phát triển vượt ngưỡng.
Kiến nghị: Chỉ tính cả thuế GTGT và thuế TNCN trên phần doanh thu vượt 1 tỷ đồng. Khi đó, hộ dịch vụ có doanh thu 1,01 tỷ đồng chỉ phải nộp:
10 triệu đồng × 7% = 700.000 đồng, thay vì 50,7 triệu đồng.
Đồng thời, cần nghiên cứu cơ chế chuyển tiếp hoặc thuế suất lũy tiến để nghĩa vụ thuế tăng tương ứng với mức tăng doanh thu, tránh cú sốc thuế.
4. Hộ kinh doanh có doanh thu từ 10 tỷ đồng trở lên
Đề xuất nâng ngưỡng bắt buộc áp dụng phương pháp doanh thu trừ chi phí từ trên 3 tỷ đồng lên từ 10 tỷ đồng trở lên.
Ở quy mô này, hộ kinh doanh có khả năng tổ chức bộ máy kế toán và quản trị tốt hơn. Việc áp dụng phương pháp doanh thu trừ chi phí sẽ phản ánh chính xác kết quả kinh doanh và bảo đảm công bằng với doanh nghiệp.
Hộ thuộc nhóm này cần thực hiện:
Tổ chức công tác kế toán;
Theo dõi doanh thu, chi phí và hàng tồn kho;
Lưu giữ hóa đơn, chứng từ;
Quản lý thanh toán và dòng tiền;
Tính thuế trên thu nhập thực tế.
Tuy nhiên, cần có chế độ kế toán riêng, đơn giản hơn doanh nghiệp; đồng thời có thời gian chuyển tiếp, phần mềm hỗ trợ, đào tạo và tư vấn trước khi bắt buộc áp dụng.
5. Tác động dự kiến Phương án trên sẽ:
- Giảm chi phí kế toán và quản trị cho hộ quy mô vừa và nhỏ;
- Hạn chế việc chia nhỏ hoặc che giấu doanh thu;
- Khuyến khích kê khai đầy đủ và tham gia khu vực chính thức;
- Tạo thời gian để hộ tích lũy nguồn lực, nâng cao năng lực quản trị;
- Giúp quá trình chuyển đổi lên doanh nghiệp diễn ra tự nguyện, bền vững;
- Mở rộng cơ sở thuế trong dài hạn nhờ tăng tuân thủ tự nguyện.
Mục tiêu không chỉ là minh bạch doanh thu mà còn phải tạo điều kiện để hộ kinh doanh lớn lên. Không nên để thời điểm hộ vừa vượt ngưỡng doanh thu cũng là thời điểm nghĩa vụ thuế và chi phí tuân thủ tăng đột biến.
III. Quy định giữa pháp luật thuế và pháp luật chuyên ngành
Quy định không chấp nhận khoản chi nếu không đáp ứng điều kiện hoặc nội dung chi theo pháp luật chuyên ngành đang tạo ra rủi ro lớn. Doanh nghiệp đồng thời chịu sự điều chỉnh của pháp luật về lao động, quảng cáo, xây dựng, đất đai, môi trường, y tế, thương mại và nhiều lĩnh vực khác.
Nếu doanh nghiệp vi phạm pháp luật chuyên ngành thì đã có chế tài tương ứng. Việc cơ quan thuế tiếp tục loại chi phí khi tính thuế TNDN hoặc không cho khấu trừ thuế GTGT có thể khiến một hành vi bị xử lý bằng nhiều cơ chế, dù giao dịch thực tế có phát sinh và phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Kiến nghị: Tách bạch chế tài thuế với chế tài chuyên ngành. Chỉ loại chi phí hoặc thuế GTGT đầu vào khi giao dịch không có thật, không phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh hoặc không đáp ứng điều kiện trực tiếp của pháp luật thuế.
IV. Sự bất định và rủi ro pháp lý
Một chi phí lớn nhưng ít được đo lường là sự bất định của chính sách: quy định thay đổi nhanh, một nội dung có nhiều cách hiểu, cách hướng dẫn giữa các địa phương chưa thống nhất và doanh nghiệp không biết trước hồ sơ có được chấp nhận hay không.
Đáng lo ngại hơn, sau nhiều năm doanh nghiệp có thể bị áp dụng một cách hiểu khác để truy thu, xử phạt và tính tiền chậm nộp.
Hệ quả không chỉ là thiệt hại tài chính. Doanh nghiệp phải duy trì một “khoản dự phòng rủi ro thuế” không chính thức, ngại đầu tư dài hạn, không dám mở rộng quy mô và luôn bất an về môi trường kinh doanh.
V. Kiến nghị chung
Cải cách thuế không nên chỉ được đánh giá bằng số thủ tục cắt giảm hoặc số tiền thuế được miễn, giảm, mà cần được đo bằng:
Thời gian và chi phí thực tế người nộp thuế tiết kiệm được;
Mức độ dễ hiểu, dễ thực hiện của chính sách;
Khả năng dự đoán và kiểm soát rủi ro;
Mức độ yên tâm đầu tư, mở rộng sản xuất, kinh doanh.
Kính đề nghị Chính phủ chỉ đạo xây dựng chương trình chuyên đề về giảm chi phí tuân thủ thuế, tập trung vào:
Rà soát thủ tục theo toàn bộ hành trình vận hành thực tế của doanh nghiệp và hộ kinh doanh.
Đánh giá tác động riêng đối với hộ kinh doanh, doanh nghiệp siêu nhỏ và doanh nghiệp mới thành lập.
Thực hiện nguyên tắc: dữ liệu cơ quan nhà nước đã tiếp nhận thì không yêu cầu người nộp thuế cung cấp lại.
Lượng hóa chi phí tuân thủ trước khi ban hành quy định mới.
Thống nhất cách hiểu và thực thi chính sách giữa các cơ quan, địa phương.
Bảo vệ người nộp thuế đã thực hiện đúng theo hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền tại thời điểm phát sinh.
VI. Kết luận
Giảm thuế là cần thiết, nhưng giảm chi phí tuân thủ, giảm sự bất định và bảo đảm an toàn pháp lý cho người nộp thuế có thể tạo ra tác động lớn hơn, bền vững hơn.
Mục tiêu cuối cùng không chỉ là thu đúng, thu đủ mà còn phải tạo ra một môi trường trong đó người kinh doanh có thể hiểu đúng, làm đúng với chi phí hợp lý và yên tâm phát triển.
Hy vọng các KIẾN NGHỊ được Phó Thủ tướng Chính phủ và Bộ Tài chính xem xét, chỉ đạo các cơ quan liên quan nghiên cứu, sửa đổi để tạo điều kiện thuận lợi cho DN/ HKD phát triển.
Nguồn nội dung: Sưu tầm.